Facebook
Gọi trực tiếp
Chat ngay
Chat trên Zalo

CHIM CÔNG – GREEN PEAFOWL

CHIM CÔNG – GREEN PEAFOWL

CÔNG 

Tên khoa học: Pavo muticus 

Họ: Trĩ Phasianidae 

Bộ: Gà Galliformes 

Đặc điểm nhận dạng

Nhìn chung bộ lông ở con đực trưởng thành có màu lục ánh thép. Đuôi dài, lông bao đuôi trên phát triển thành lông trang hoàng dài tới 1500mm, màu lục ánh đồng, lúc xoè ra có hình nan quạt thẳng đứng. Con cái có màu sắc tương tự con đực, chỉ khác là đuôi ngắn hơn và không có lông trang hoàng. Mỏ xám sừng. Mắt nâu, da quanh mặt vàng xanh. Giò xám thẫm ánh xanh. Con đực và cái đều có cựa, nhưng ở con đực phát triển hơn con cái. 

Sinh học, sinh thái

Công làm tổ đơn giản ngay trên mặt đất ở nơi kín đáo nhưng khô, thoáng. Thời gian đẻ vào tháng 5 – 6, mỗi lứa đẻ 3 – 5 trứng hình bầu dục, một đầu to, một đầu nhỏ. Công nuôi ở Vườn thú Hà Nội đẻ 6 quả (Đặng Gia Tùng, 1998). Nuôi ở Suối Hai, Ba Vì đẻ tới 10 quả, vỏ trứng màu hung nhạt. Kích thước trung bình (77,6 x 56,3mm), thời gian ấp là 24 – 25 ngày (Trương Văn Lã, 1997). 

Thức ăn chủ yếu là các loại quả cây, hạt ngũ cốc, hạt cỏ dại, nhiều loại côn trùng trong đó chúng thích nhất là cào cào, châu chấu, giun đất và ngoé, nhái. Mùa thay lông vào tháng 6 và tháng 11 trong năm. 

Phân bố:

+ Trong nước: Vùng Hà Tĩnh (Khe Bưởi, hồ Kẻ Gỗ), Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hoà ( Diên Khánh), Gia Lai, Kontum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Phước ( Bù Gia Mập), Đồng Nai (Vườn Quốc gia Cát Tiên). 

+ Thế giới: Đông Mianma, Trung Quốc (Nam Vân Nam), Lào, Cămpuchia, Thái Lan. 

Giá trị

Chim có bộ lông và hình dáng đẹp nên đã trở thành chim cảnh từ lâu ở nhiều nước trên thế giới và có giá trị khoa học, thương mại … 

Tình trạng

Tình trạng nơi ở trong tự nhiên bị phá hoại nghiêm trọng, khu phân bố bị thu hẹp nhanh chóng. Săn bắt rất bừa bãi và quá mức, vì vậy số lượng công bị giảm sút mạnh. Hiện nay công chỉ còn số lượng ít rải rác từ Bắc Trung Bộ trở vào và không còn công ở nhiều nơi trong vùng phân bố nhất là ở Bắc Bộ. Chỉ hai Vườn quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk) và Cát Tiên (Đồng Nai) hiện là những nơi còn số lượng công nhiều nhất của nước ta. Tuy nhiên ở Vườn thú Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Công được nuôi và sinh sản bình thường. 

Phân hạng: EN A1a,c,d + 3b,d C2a. 

Biện pháp bảo vệ

Loài quý hiếm đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (1992, 2000 ), IUCN (1996, 2000), Sách Đỏ Chim  Châu Á (2001), bậc VU (sắp nguy cấp). Nghị định 18/HĐBT (1992), 48/NĐ-CP (2002) và Phụ lục II của công ước CITES. Khẩn trương tích cực bảo vệ các đàn công hiện nay còn lại trong tự nhiên, đặc biệt chú trọng các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia. Nghiêm cấm việc săn bắt và kiểm soát việc buôn bán vận chuyển công trái phép. Đồng thời có kế hoạch hồi phục lại Công ở các khu rừng trước đây có Công ở miền Bắc. Thuộc nhóm IB theo Thông tư 85/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (Nguồn: vncreatures.net). 

—————————————————————————————————————————————————————–

Green Peafowl / Indochinese Green Peafowl 

Scientific Name: Pavo muticus 

Family: Phasianidae

Order: Galliformes 

Identification Characteristics:

+ Adult Males: Generally, the plumage of the adult male is metallic green. The tail is long, and the upper tail-coverts are highly developed into ornamental train feathers reaching up to 1500 mm in length with a metallic bronze-green hue; when fanned out, it forms a vertical, fan-like display. 

+ Females: Females possess a similar coloration to males, with the main differences being a shorter tail and the complete absence of ornamental train feathers. 

+ Soft Parts: The bill is horn-grey. Eyes are brown, and the facial skin surrounding the eyes is yellowish-green. Tarsi (legs) are dark grey with a bluish sheen. Both males and females possessspurs, though they are significantly more developed in males. 

Biology and Ecology:

The green peafowl builds a simple, rudimentary nest directly on the ground in secluded, yet dry and airy locations. The laying period occurs between May and June; each clutch consists of 3 – 5 oval-shaped eggs, with one broad end and one pointed end. Peafowls kept at the Hanoi Zoo laid 6 eggs (Dang Gia Tung, 1998). Those bred in Suoi Hai, Ba Vi laid up to 10 eggs, featuring palebrownish-yellow shells. The average egg dimensions are 77.6×56.3 mm, and the incubation period lasts 24 – 25 days (Truong Van La, 1997). 

Their diet primarily consists of wild fruits, cereal grains, weed seeds, and various insects—among which they prefer grasshoppers, locusts, earthworms, small frogs, and toads. The moltingseasons occur in June and November of the year. 

Distribution:

+ Domestic: Ha Tinh province (Khe Buoi, Ke Go Lake), Quang Nam, Phu Yen, Khanh Hoa (Dien Khanh), Gia Lai, Kon Tum, Dak Lak, Lam Dong, Binh Phuoc (Bu Gia Map), and Dong Nai (Cat TienNational Park). 

+ International: Eastern Myanmar, China (Southern Yunnan), Laos, Cambodia, and Thailand. 

Value:

Due to its beautiful plumage and elegant appearance, this bird has long been kept as an ornamental species in many countries worldwide, and it carries significant scientific and commercialvalue. 

Status:

Their natural habitats have been severely destroyed, and their distribution range is shrinking rapidly. They have been subjected to highly indiscriminate and excessive poaching, leading to a sharp decline in the peafowl population. Currently, only a small number of peafowls remain scattered from the North Central region southward, and they have been extirpated from manyareas within their historical range, particularly in Northern Vietnam. At present, Yok Don National Park (Dak Lak) and Cat Tien National Park (Dong Nai) hold the largest remaining populationsof this species in Vietnam. However, at the Hanoi Zoo and Ho Chi Minh City Zoo, the green peafowl is successfully bred and reproduces normally. 

Classification:

EN A1a,c,d + 3b,d C2a (Endangered) 

Conservation Measures:

This rare and precious species was included in the Red Data Book of Vietnam (1992, 2000), the IUCN Red List (1996, 2000), and the Threatened Birds of Asia (2001) under the VU (Vulnerable) category. It was also protected under Decree 18/HDBT (1992), Decree 48/ND-CP (2002), and Appendix II of the CITES convention. 

There is an urgent need to actively protect the remaining wild peafowl populations, with special emphasis on nature reserves and national parks. Hunting must be strictly prohibited, and the illegal trade and transport of peafowls must be tightly controlled. Concurrently, reintroduction plans should be developed to restore green peafowl populations in northern forests where theyhistorically occurred. The species is listed under Group IB according to Circular 85/2025 of the Ministry of Agriculture and Environment. (Source: vncreatures.net).

—————————————————————————————————————————————————————–

Зелёный павлин 

Латинское название: Pavo muticus 

Семейство: Фазановые (Phasianidae) 

Отряд: Курообразные (Galliformes)

Идентификационные признаки:

+ Взрослые самцы: В целом оперение взрослого самца имеет металлический зеленый цвет. Хвост длинный, а верхние кроющие перья хвоста сильно развиты и превращаются в декоративный шлейф (надхвостье) длиной до 1500 мм бронзово-зеленого металлического цвета; при раскрытии они образуют вертикальный веер. 

+ Самки: Самки имеют сходную с самцами окраску, но отличаются более коротким хвостом и полным отсутствием декоративного шлейфа. 

+ Голые участки (клюв, глаза, лапы): Клюв рогового серого цвета. Глаза коричневые, кожа вокруг морды желто-зеленая. Цевка (лапы) темно-серая с синеватым отливом. Как у самцов, так и у самок имеются шпоры, однако у самцов они развиты значительно сильнее. 

Биология и экология:

Зеленый павлин устраивает простое гнездо прямо на земле в укрытых, но сухих и хорошо проветриваемых местах. Период откладки яиц приходится на май – июнь; в одной кладкенасчитывается от 3 до 5 овальных яиц с одним широким и одним суженным концом. Павлины, содержащиеся в Ханойском зоопарке, откладывали по 6 яиц (Данг Зя Тунг, 1998). Птицы, содержащиеся в Суойхай (Бави), откладывали до 10 яиц со светло-рыжеватой скорлупой. Средний размер яиц составляет 77.6×56.3 мм, период инкубации длится 24 – 25 дней (Чыонг Ван Ла, 1997). 

Основу рациона составляют плоды деревьев, зерновые злаки, семена сорных трав и многие виды насекомых, среди которых они больше всего предпочитают кобылок, саранчу, дождевых червей, а также мелких лягушек и жаб. Сезон линьки проходит в июне и ноябре текущего года. 

Распространение:

+ Внутри страны (Вьетнам): Провинция Хатинь (Кхебыой, озеро Кего), Куангнам, Фуиен, Кханьхоа (Дьенкхань), Зялай, Контум, Даклак, Ламдонг, Биньфыок (Бузямап) и Донгнай(национальный парк Каттьен). 

+ В мире: Восточная Мьянма, Китай (юг провинции Юньнань), Лаос, Камбоджа, Таиланд. 

Ценность:

Благодаря красивому оперению и изящному телосложению эта птица издавна стала декоративным видом во многих странах мира, а также имеет научное и коммерческоезначение. 

Статус:

Условия обитания в дикой природе серьезно нарушены, ареал распространения стремительно сокращается. Из-за бесконтрольного и чрезмерного браконьерства численностьпавлинов сильно сократилась. В настоящее время павлины сохранились лишь в небольшом количестве и рассредоточены от северной части Центрального Вьетнама к югу; вомногих местах исторического ареала (особенно в Северном Вьетнаме) вид полностью исчез. Национальный парк Йокдон (Даклак) и национальный парк Каттьен (Донгнай) наданный момент являются местами с наибольшей численностью павлинов в нашей стране. Тем не менее в зоопарках Ханоя и Хошимина павлины успешно содержатся и размножаются в неволе. 

Категория статуса редкости:

EN A1a,c,d + 3b,d C2a (Находящийся под угрозой исчезновения) 

Меры охраны:

Редкий и ценный вид, который был включен в Красную книгу Вьетнама (1992, 2000), Красный список МСОП (1996, 2000) и Красную книгу птиц Азии (2001) со статусом VU (Уязвимый). Вид охранялся Постановлением 18/HDBT (1992), Постановлением 48/NĐ-CP (2002) и Приложением II Конвенции СИТЕС. 

Необходимо в срочном порядке активно охранять оставшиеся в дикой природе популяции павлинов, уделяя особое внимание природным заповедникам и национальным паркам. Требуется строго запретить охоту и жестко контролировать незаконную торговлю и транспортировку павлинов. Одновременно с этим следует разработать план по реинтродукциипавлинов в леса Северного Вьетнама, где они обитали ранее. Вид включен в Группу IB согласно Циркуляру 85/2025 Министерства сельского хозяйства и окружающей среды. (Источник: vncreatures.net) 

 

 

 

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “CHIM CÔNG – GREEN PEAFOWL”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang