Facebook
Gọi trực tiếp
Chat ngay
Chat trên Zalo

ĐÀ ĐIỂU CHÂU PHI

ĐÀ ĐIỂU CHÂU PHI

ĐÀ ĐIỂU CHÂU PHI

Đà điểu châu Phi (danh pháp khoa học: Struthio camelus) là một loài chim chạy, có nguồn gốc từ châu Phi. Nó là loài còn sinh tồn duy nhất của họ Struthionidae, và chi Struthio. Chúng rất khác biệt về hình thể với cổ, chân dài và có tốc độ lật mặt lên đến 65 km/giờ (40 dặm/giờ). Đà điểu được xem là loài chim còn sống lớn nhất và được chăn nuôi trên khắp thế giới. Tên khoa học của nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “chim lạc đà” [4]. Trong tên khoa học của nó phần thứ hai -camelus mang ý nghĩa liên tưởng tới môi trường sống khắc nghiệt trong tự nhiên của chúng.[5]
Mô tả
Đà điểu châu Phi nặng từ 90 đến 130 kg (200 đến 290 pound). Một số đà điểu trống đã được ghi nhận là có thể nặng đến 155 kg (340 pao). Đà điểu trống trưởng thành có lông chủ yếu là màu đen với một vài điểm trắng ở cánh và đuôi. Đà điểu mái và con non có màu xám nâu nhạt với vài đốm trắng. Đà điểu trống dùng đôi cánh nhỏ do thoái hóa của nó để múa gọi bạn tình và che chở cho đà điểu con. Bộ lông của chúng mềm và khác biệt so với lông vũ của loài chim bay. Vẫn còn những cái móng trên hai cánh của chúng. Cặp chân khỏe của chúng không có lông. Chân có hai ngón với một ngón lớn hơn trông giống như móng ngựa. Điểm độc đáo này giúp cho khả năng chạy của đà điểu. Với lông mi rậm và đen, cặp mắt của đà điểu lớn nhất trong các loài động vật trên cạn còn sống.
Ở độ tuổi trưởng thành (2–4 năm), đà điểu trống cao 1,8–2,7 m (6–9 ft), đà điểu mái 1,7–2 m (5,5–6,5 ft). Trong năm đầu tiên, đà điểu con tăng cao 25 cm (10 inch) mỗi tháng. Một năm tuổi đà điểu đạt trọng lượng 45 kg (100 pao).
Phân loại và phân bố địa lý
Trong tự nhiên đà điểu châu Phi sống ở thảo nguyên savanna và vùng Sahel của châu Phi, về phía Bắc và Nam của vùng rừng xích đạo. Đà điểu thuộc về bộ Struthioniformes (bộ Đà điểu hay Chim chạy). Cùng bộ với nó là đà điểu Nam Mỹ, chim ê mu (đà điểu sa mạc ở Australia), đà điểu đầu mào và lớn nhất nhưng đã tuyệt chủng là Aepyornis.
Các phân loài của nó là:
• Struthio camelus australis ở miền nam châu Phi, phía nam sông Zambezi và Cunene.
• Struthio camelus camelus ở Bắc Phi, đôi khi còn được gọi là đà điểu Bắc Phi hay Đà điểu cổ đỏ.
• Struthio camelus massaicus ở Đông Phi, đôi khi còn được gọi là đà điểu Masai. Trong mùa sinh sản, cổ và đùi của con trống chuyển sang màu hồng cam. Vùng sinh sống của chúng ở phía đông của Ethiopia và Kenya, phía tây của Sénégal và từ vùng phía đông bắc của Mauritania đến phía nam của Morocco.
• Struthio camelus molybdophanes ở Somalia, Ethiopia, bắc Kenya, đôi khi còn được gọi là đà điểu Somali. Trong mùa sinh sản, cổ và đùi của con trống chuyển sang màu xanh. Vùng sinh sống của chúng trùng với S.c. massaicus ở đông bắc của Kenya. Một số học giả cho rằng đà điểu Somali có thể chính là một loài riêng biệt.
• Struthio camelus syriacus ở Trung Đông, đôi khi còn được gọi là đà điểu Ả Rập hay đà điểu Trung Đông. Chúng đã từng rất phổ biến ở bán đảo Ả Rập, Syria và Iraq; nhưng đã tuyệt chủng từ năm 1966.
Hành vi
Đà điểu châu Phi sống theo từng nhóm 5–50 con, du cư theo những loài thú ăn cỏ khác như ngựa vằn hay linh dương. Chúng ăn chủ yếu là hạt hay cây cỏ, đôi khi chúng ăn cả những động vật nhỏ như cào cào. Kiếm ăn vào ban ngày là chủ yếu. Không có răng, chúng phải nuốt sỏi để giúp cho việc nghiền thức ăn trong mề. Chúng có thể đi trong một thời gian dài không cần đến nước, mà chỉ dựa vào độ ẩm của những cây cỏ chúng nuốt vào. Tuy nhiên chúng thích nước và thường hay tắm.
Với khả năng nghe và nhìn thính nhạy, chúng có thể phát hiện những loài thú săn mồi như sư tử từ khoảng cách xa.
Theo một truyền thuyết phổ biến, đà điểu nổi tiếng về việc chui đầu vào cát khi gặp nguy hiểm. Tác giả La Mã Pliny – bậc trưởng lão, trong cuốn Lịch sử tự nhiên đã mô tả về đà điểu và việc giấu đầu vào bụi rậm của chúng. Tuy nhiên lại không có quan sát đã được ghi nhận nào về hành vi này. Một phản bác khá nổi tiếng là: một loài có hành vi như thế sẽ không thể tồn tại lâu dài. Truyền thuyết này có lẽ bắt nguồn từ sự thật rằng: quan sát từ khoảng cách xa sẽ thấy khi ăn, đà điểu vùi đầu vào cát, bởi vì chúng chủ tâm nuốt cát và sạn vào để giúp cho việc nghiền thức ăn. Chứ nếu vùi đầu vào cát thì đà điểu sẽ chết ngạt mất. Khi nằm xuống để tránh thú săn mồi, đà điểu ép sát đầu và cổ xuống đất, trông xa giống như là một ụ đất nhỏ. Khi gặp nguy hiểm, đà điểu hoảng loạn bỏ chạy và tự làm bị thương nặng bởi những cú đá từ cặp giò khỏe mạnh của chúng.
Trong kinh Phúc Âm soạn bởi Job (Job 39.13-18), đà điểu được mô tả với cặp cánh ngắn ngủn buồn cười, không chú ý đến an toàn của tổ trứng, đối xử khắc nghiệt đối với đàn con, thiếu khôn ngoan, nhưng lại làm con ngựa phải hổ thẹn với tốc độ của chúng.
Sinh sản
Đà điểu châu Phi trưởng thành hoàn toàn ở độ tuổi 2 – 4 năm, con trống chậm hơn con mái khoảng 6 tháng. Mùa sinh sản bắt đầu từ tháng 3 hay 4 đến tháng tháng 8, tùy thuộc vào vùng địa lý. Đà điểu trống dùng tiếng rít và những âm thanh khác để đánh nhau, chiếm lãnh thổ và quyến rũ hậu cung có từ 2 – 5 đà điểu mái. Kẻ chiến thắng sẽ giao phối với toàn hậu cung nhưng chỉ lập một “hậu” mà thôi.
Đà điểu châu Phi là loài đẻ trứng. Toàn hậu cung sẽ cùng đẻ trứng có phôi vào một tổ của “hậu”, đó chỉ đơn giản là một cái hố sâu từ 30 – 60 cm. Trứng nặng từ 1,3 – 1,4 kg (3 pao), dài 15 cm (6 inch), rộng 13 cm (5 inch), là loại trứng lớn nhất và có phôi lớn nhất, nhưng lại là nhỏ nhất nếu so sánh tương đối với kích thước của đà điểu. Mỗi tổ có từ 15 – 60 trứng màu trắng nhạt và bóng láng. Con cái ấp trứng vào ban ngày còn con trống thì vào ban đêm, bởi vậy chúng có màu lông khác nhau để tránh bị phát hiện khi đang ấp trứng. Quá trình ấp từ 35 – 45 ngày và con trống thường đón chào con con mới nở. Tuổi thọ của đà điểu châu Phi là từ 30 – 70 năm, trung bình là 50 năm.
Đà điểu con mới nở đã mở mắt và trong vòng 1, 2 tiếng chúng đã có thể chạy nhảy được rồi. Hầu như những loài chim không bay, con của chúng mở mắt lúc mới chào đời và có lớp lông tơ bảo vệ, thân hình của đà điểu con cũng không ngoại lệ. Còn những loài biết bay, thì hầu như con của chúng không có lông và không mở mắt, chúng phải nhờ vào mẹ hay bố tìm mồi. Đà điểu con rất hiếu động, bố mẹ chúng phải tập họp chúng lại như một nhà trẻ di động. Chúng chạy lung tung và trong vòng nửa năm đầu đà điểu con rất dễ chết vì những lý do khác ngoài thiên nhiên, nhưng sau đó chúng lớn rất nhanh.
Đà điểu và con người
Trước đây đà điểu bị săn bắt và được nuôi vì bộ lông của chúng, đã từng là vật trang trí cho mũ của các quý bà. Bộ da của chúng cũng rất có giá trị. Vào thế kỷ XVIII, chúng đã bị săn bắt gần đến tuyệt chủng. Chúng được nuôi từ thế kỷ XIX. Thị trường lông đà điểu sụp đổ sau Thế Chiến I. Chăn nuôi thương mại bắt đầu trở lại vào thập niên 1970 để lấy lông và sau đó là da. Đà điểu Ả Rập và Nam Tây Á bị tuyệt chủng vào giữa thế kỷ XX.
Ngày nay, đà điểu được nuôi khắp thế giới, tại cả những vùng khí hậu lạnh như Thụy Điển. Chúng thích nghi với nhiệt độ từ 30 đến – 10 °C; được nuôi tại hơn 50 nước trên thế giới, nhưng phần lớn là ở Nam Phi. Do hệ số chuyển đổi thức ăn của đà điểu là thấp nhất (3,5:1 so với của gia súc là 6:1), nên chúng rất hấp dẫn đối với nông dân. Mặc dù đà điểu được nuôi chủ yếu để lấy da, tiếp đến là thịt; nhưng còn những sản phẩm phụ khác như là trứng, phụ phẩm, lông. Người ta cho rằng da đà điểu hiện đang có giá trị thương mại lớn nhất. Thịt đà điểu có vị như thịt bò nạc, mỡ và cholesterol thấp, nhưng lại giàu calci, đạm và sắt. Đà điểu lớn đến mức một người tầm vóc trung bình có thể cưỡi nó; thông thường người cưỡi nắm lấy đôi cánh của chúng. Ở một số vùng ở Bắc Phi và Ả Rập, chúng được huấn luyện để cưỡi lên núi. Các tổ chức bảo vệ quyền động vật chỉ trích việc cưỡi đà điểu ở Hoa Kỳ, nhưng những cuộc đua này ít phổ biến rộng rãi vì khó có thể đóng yên đà điểu và chúng cũng hơi nóng tính.
Đà điểu bị xếp là động vật nguy hiểm ở Úc, Hoa Kỳ và Anh. Chúng đã tấn công và giết chết người. Con mái lớn rất cục bộ, hung hãn và có thể tấn công và đá rất mạnh. Đà điểu có thể chạy nhanh hơn cả một vận động viên điền kinh.
Trứng của đà điểu dùng làm vật trang trí, vì vỏ của chúng dày, khó vỡ. Có người lấy vỏ trứng và làm đèn ngủ, hay để cả nguyên vỏ chỉ lấy hết ruột ra. Có nhiều tiệm hoàn kim còn dát vàng lên vỏ trứng đà điểu và bán rất cao giá. (Nguồn: vncreatures.net).

OSTRICH AFRICA
The African ostrich (scientific name: Struthio camelus) is a species of flightless bird, native to Africa. It is the only extant species of the family Struthionidae, and the genus Struthio.
They are very distinctive in physique with long necks and legs, and can reach speeds of up to 65 km/h (40 miles/h). The ostrich is considered the largest living bird and is farmed worldwide. Its scientific name is derived from the Greek meaning “camel bird” [4]. The second part of its scientific name, -camelus, suggests a connection to its harsh natural habitat [5].
Description
The African ostrich weighs between 90 and 130 kg (200 to 290 pounds). Some male ostriches have been recorded to weigh up to 155 kg (340 pounds). Adult male ostriches primarily have black feathers with some white spots on the wings and tail. Female and young ostriches are light grayish-brown with a few white spots. The male ostrich uses its small, vestigial wings for courtship displays and to shelter the young. Their feathers are soft and distinct from the flight feathers of flying birds. They still have claws on their two wings. Their powerful legs are featherless. The legs have two toes, with one larger toe that resembles a hoof. This unique feature aids the ostrich’s running ability. With thick, black eyelashes, the ostrich’s eyes are the largest of any living terrestrial animal.
At adult age (2–4 years), male ostriches stand 1.8–2.7 m (6–9 ft) tall, and females stand 1.7–2 m (5.5–6.5 ft). In their first year, chicks grow 25 cm (10 inches) every month. At one year old, the ostrich reaches a weight of 45 kg (100 pounds).
Classification and Geographical Distribution
In the wild, the African ostrich lives in the savanna and the Sahel region of Africa, north and south of the equatorial forest region. Ostriches belong to the order Struthioniformes (the Ostrich order or Ratites). Belonging to the same order are the rheas (South American ostriches), emus (desert ostriches in Australia), cassowaries, and the largest, but extinct, Aepyornis.
Its subspecies are:
• Struthio camelus australis in southern Africa, south of the Zambezi and Cunene rivers.
• Struthio camelus camelus in North Africa, sometimes also called the North African ostrich or Red-necked ostrich.
• Struthio camelus massaicus in East Africa, sometimes also called the Masai ostrich. During the breeding season, the male’s neck and thighs turn orange-pink. Their habitat is east of Ethiopia and Kenya, west of Senegal, and from the northeast of Mauritania to the south of Morocco.
• Struthio camelus molybdophanes in Somalia, Ethiopia, northern Kenya, sometimes also called the Somali ostrich. During the breeding season, the male’s neck and thighs turn blue. Their habitat overlaps with S.c. massaicus in northeastern Kenya. Some scholars suggest that the Somali ostrich may be a separate species.
• Struthio camelus syriacus in the Middle East, sometimes also called the Arabian or Middle Eastern ostrich. They were once very common in the Arabian Peninsula, Syria, and Iraq; but have been extinct since 1966.
Behavior
African ostriches live in groups of 5–50 individuals, migrating with other herbivores like zebras or antelopes. They primarily eat seeds or plants, sometimes consuming small animals like locusts. Foraging mainly takes place during the day. Having no teeth, they must swallow pebbles to help grind food in their gizzards. They can go for long periods without water, relying only on the moisture from the plants they ingest. However, they enjoy water and often bathe.
With keen hearing and eyesight, they can spot predators like lions from a distance.
According to a popular myth, the ostrich is famous for burying its head in the sand when in danger. The Roman author Pliny the Elder, in his work Natural History, described the ostrich and its act of hiding its head in the bushes. However, there are no recorded observations of this behavior. A well-known counter-argument is that a species with such behavior would not survive for long. This myth likely stems from the fact that: when observed from a distance while feeding, the ostrich appears to bury its head in the sand because they intentionally swallow sand and grit to aid in grinding food. If they buried their head in the sand, the ostrich would suffocate. When lying down to avoid predators, the ostrich presses its head and neck close to the ground, resembling a small mound from afar. When in danger, ostriches panic and run, causing severe injuries with powerful kicks from their strong legs.
In the Book of Job (Job 39:13–18), the ostrich is described as having short, comical wings, paying no attention to the safety of its nest eggs, dealing harshly with its young, lacking wisdom, yet putting the horse to shame with its speed.
Reproduction
African ostriches reach full maturity between 2 and 4 years of age, with males maturing about 6 months later than females. The breeding season starts from March or April to August, depending on the geographical region. Male ostriches use hissing and other sounds to fight, claim territory, and attract a harem of 2–5 females. The winner will mate with the entire harem but only establishes one “main” female.
The African ostrich is an egg-laying species. The entire harem will lay eggs with embryos in the “main” female’s nest, which is simply a hole 30–60 cm deep. The eggs weigh 1.3–1.4 kg (3 pounds), are 15 cm (6 inches) long, and 13 cm (5 inches) wide. They are the largest eggs and contain the largest embryos, but are the smallest when compared relatively to the ostrich’s size. Each nest contains 15–60 pale white and glossy eggs. The female incubates the eggs during the day, while the male does so at night, which is why they have different feather colors to avoid detection while incubating. The incubation process lasts 35–45 days, and the male often welcomes the newly hatched chicks. The lifespan of the African ostrich is from 30 to 70 years, averaging 50 years.
Newly hatched ostrich chicks have their eyes open, and within 1–2 hours, they can run and jump. Like most flightless birds, their young are born with open eyes and a protective layer of down, and ostrich chicks are no exception. For flying birds, their young are usually featherless and blind, relying on the mother or father to find food. Ostrich chicks are very active, and their parents have to gather them together like a mobile daycare. They run around, and during the first six months, ostrich chicks are very vulnerable to non-natural causes of death, but after that, they grow very quickly.
Ostriches and Humans
Previously, ostriches were hunted and farmed for their feathers, which were once used as decorations for ladies’ hats. Their skin was also very valuable. In the 18th century, they were hunted almost to extinction. They have been farmed since the 19th century. The ostrich feather market collapsed after World War I. Commercial farming restarted in the 1970s for feathers and later for skin. The Arabian and Southwest Asian ostriches became extinct in the mid-20th century.
Today, ostriches are farmed worldwide, even in cold climates like Sweden. They adapt to temperatures from 30 to –10 °C; they are raised in over 50 countries globally, but mostly in South Africa. Because the ostrich’s feed conversion ratio is the lowest (3.5:1 compared to 6:1 for cattle), they are very attractive to farmers. Although ostriches are primarily farmed for their skin, followed by meat; there are other by-products such as eggs, offal, and feathers. It is believed that ostrich skin currently holds the greatest commercial value. Ostrich meat tastes like lean beef, is low in fat and cholesterol, but rich in calcium, protein, and iron. Ostriches are large enough that an average-sized person can ride them; riders typically hold onto their wings. In some regions of North Africa and Arabia, they are trained to be ridden in the mountains. Animal rights organizations criticize ostrich riding in the United States, but these races are not widely popular because it is difficult to saddle an ostrich, and they are somewhat ill-tempered.
Ostriches are classified as dangerous animals in Australia, the United States, and the United Kingdom. They have attacked and killed people. Large females are very territorial, aggressive, and can attack and kick very hard. Ostriches can run faster than an athlete.
Ostrich eggs are used for decoration because their shells are thick and hard to break. Some people use the eggshell to make a night light or keep the shell whole after removing the contents. Many jewelers even plate ostrich eggshells with gold and sell them at a high price. (Source: vncreatures.net).
________________________________________
🇷🇺 Russian Translation
СТРАУС
АФРИКА
Африканский страус (научное название: Struthio camelus) — это вид нелетающих птиц, родом из Африки. Он является единственным сохранившимся видом семейства Страусовых (Struthionidae) и рода Struthio.
Они очень отличаются по телосложению: у них длинные шеи и ноги, и они могут развивать скорость до 65 км/ч (40 миль/ч). Страус считается самой крупной из ныне живущих птиц и разводится по всему миру. Его научное название происходит от греческого, что означает «верблюжья птица» [4]. Вторая часть его научного названия, -camelus, ассоциируется с суровыми условиями их обитания в дикой природе [5].
Описание
Африканский страус весит от 90 до 130 кг (от 200 до 290 фунтов). Зарегистрированы самцы страусов, которые весили до 155 кг (340 фунтов). Взрослые самцы страусов имеют преимущественно черное оперение с несколькими белыми пятнами на крыльях и хвосте. Самки и молодые особи имеют светло-серо-коричневый цвет с несколькими белыми пятнами. Самец страуса использует свои маленькие, рудиментарные крылья для брачных танцев и для защиты птенцов. Их перья мягкие и отличаются от маховых перьев летающих птиц. На двух крыльях у них все еще есть когти. Их мощные ноги лишены перьев. На ногах два пальца, один из которых больше и напоминает копыто. Эта уникальная особенность способствует способности страуса к бегу. Благодаря густым черным ресницам, глаза страуса являются самыми большими среди всех ныне живущих наземных животных.
В зрелом возрасте (2–4 года) самцы страусов достигают высоты 1,8–2,7 м (6–9 футов), самки — 1,7–2 м (5,5–6,5 футов). В течение первого года птенцы прибавляют в росте 25 см (10 дюймов) каждый месяц. В годовалом возрасте страус достигает веса 45 кг (100 фунтов).
Классификация и географическое распространение
В дикой природе африканский страус обитает в саванне и регионе Сахель в Африке, к северу и югу от зоны экваториальных лесов. Страусы относятся к отряду Страусообразные (Struthioniformes). К тому же отряду относятся нанду, эму (пустынные страусы в Австралии), казуары, а также самый крупный, но вымерший, Эпиорнис (Aepyornis).
Его подвиды:
• Struthio camelus australis на юге Африки, к югу от рек Замбези и Кунене.
• Struthio camelus camelus в Северной Африке, иногда также называемый североафриканским страусом или красношейным страусом.
• Struthio camelus massaicus в Восточной Африке, иногда также называемый страусом масаи. В брачный сезон шея и бедра самца становятся оранжево-розовыми. Ареал их обитания находится к востоку от Эфиопии и Кении, к западу от Сенегала и от северо-восточной части Мавритании до юга Марокко.
• Struthio camelus molybdophanes в Сомали, Эфиопии, северной Кении, иногда также называемый сомалийским страусом. В брачный сезон шея и бедра самца становятся синими. Ареал их обитания пересекается с ареалом S.c. massaicus на северо-востоке Кении. Некоторые ученые предполагают, что сомалийский страус может быть отдельным видом.
• Struthio camelus syriacus на Ближнем Востоке, иногда также называемый аравийским или ближневосточным страусом. Они когда-то были очень распространены на Аравийском полуострове, в Сирии и Ираке; но вымерли с 1966 года.
Поведение
Африканские страусы живут группами по 5–50 особей, мигрируя вместе с другими травоядными животными, такими как зебры или антилопы. В основном они питаются семенами или растениями, иногда потребляя мелких животных, таких как саранча. Кормление в основном происходит днем. Не имея зубов, они должны глотать камни, чтобы помочь измельчать пищу в желудке. Они могут долго обходиться без воды, полагаясь только на влагу, содержащуюся в растениях, которые они глотают. Однако они любят воду и часто купаются.
Благодаря острому слуху и зрению, они могут обнаружить хищников, таких как львы, на большом расстоянии.
Согласно распространенной легенде, страус известен тем, что прячет голову в песок, когда ему грозит опасность. Римский автор Плиний Старший в своем труде Естественная история описал страуса и его обычай прятать голову в кустах. Однако никаких зарегистрированных наблюдений такого поведения нет. Известный контраргумент заключается в том, что вид с таким поведением не смог бы долго просуществовать. Этот миф, вероятно, возник из того факта, что: при наблюдении издалека во время кормления страус опускает голову в песок, поскольку они намеренно глотают песок и гравий, чтобы помочь измельчить пищу. Если бы они зарывали голову в песок, страусы задохнулись бы. Когда страус ложится, чтобы избежать хищников, он прижимает голову и шею близко к земле, издалека напоминая небольшой земляной холмик. Когда им угрожает опасность, страусы в панике убегают, нанося себе серьезные травмы сильными ударами своих мощных ног.
В Книге Иова (Иов 39:13–18) страус описывается как имеющий короткие, смешные крылья, не обращающий внимания на безопасность своего гнезда с яйцами, сурово обращающийся со своими детенышами, лишенный мудрости, но при этом позорящий лошадь своей скоростью.
Размножение
Африканские страусы достигают полной зрелости в возрасте от 2 до 4 лет, самцы созревают примерно на 6 месяцев позже самок. Сезон размножения начинается с марта или апреля по август, в зависимости от географического региона. Самцы страусов используют шипение и другие звуки, чтобы сражаться, отстаивать территорию и привлекать гарем из 2–5 самок. Победитель будет спариваться со всем гаремом, но устанавливает только одну «главную» самку.
Африканский страус является яйцекладущим видом. Весь гарем откладывает яйца с эмбрионами в гнездо «главной» самки, которое представляет собой просто яму глубиной 30–60 см. Яйца весят 1,3–1,4 кг (3 фунта), имеют длину 15 см (6 дюймов) и ширину 13 см (5 дюймов). Это самые крупные яйца, содержащие самые крупные эмбрионы, но они самые маленькие по сравнению с относительным размером страуса. Каждое гнездо содержит 15–60 бледно-белых и блестящих яиц. Самка высиживает яйца днем, а самец — ночью, поэтому у них разный цвет перьев, чтобы избежать обнаружения во время насиживания. Процесс инкубации длится 35–45 дней, и самец часто приветствует недавно вылупившихся птенцов. Продолжительность жизни африканского страуса составляет от 30 до 70 лет, в среднем 50 лет.
У только что вылупившихся страусят открыты глаза, и в течение 1–2 часов они уже могут бегать и прыгать. Как и у большинства нелетающих птиц, их детеныши рождаются с открытыми глазами и защитным слоем пуха, и птенцы страуса не являются исключением. Что касается летающих птиц, их детеныши обычно лишены перьев и слепы, полагаясь на мать или отца в поиске пищи. Страусята очень активны, и их родителям приходится собирать их вместе, как передвижной детский сад. Они бегают повсюду, и в течение первых шести месяцев птенцы страуса очень уязвимы для причин смерти, не связанных с природой, но после этого они растут очень быстро.
Страусы и люди
Раньше на страусов охотились и разводили ради их перьев, которые когда-то использовались в качестве украшений для дамских шляп. Их кожа также была очень ценной. В XVIII веке на них охотились до тех пор, пока они почти не вымерли. Их разводят с XIX века. Рынок страусиных перьев рухнул после Первой мировой войны. Коммерческое разведение возобновилось в 1970-х годах для получения перьев, а затем и кожи. Аравийский и юго-западноазиатский страусы вымерли в середине XX века.
Сегодня страусов разводят по всему миру, даже в холодных климатических условиях, таких как Швеция. Они приспосабливаются к температурам от 30 до –10 °C; их разводят более чем в 50 странах мира, но в основном в Южной Африке. Поскольку коэффициент конверсии корма у страуса самый низкий (3,5:1 по сравнению с 6:1 у крупного рогатого скота), они очень привлекательны для фермеров. Хотя страусов в основном разводят для получения кожи, за которой следует мясо; существуют и другие побочные продукты, такие как яйца, субпродукты и перья. Считается, что страусиная кожа в настоящее время имеет наибольшую коммерческую ценность. Мясо страуса по вкусу похоже на нежирную говядину, в нем мало жира и холестерина, но оно богато кальцием, белком и железом. Страусы достаточно крупные, чтобы на них мог кататься человек среднего телосложения; наездники обычно держатся за их крылья. В некоторых регионах Северной Африки и Аравии их обучают для верховой езды в горах. Организации по защите прав животных критикуют катание на страусах в Соединенных Штатах, но эти гонки не пользуются широкой популярностью, потому что страуса трудно оседлать, и у них несколько дурной нрав.
Страусы классифицируются как опасные животные в Австралии, США и Великобритании. Они нападали и убивали людей. Крупные самки очень территориальны, агрессивны и могут очень сильно атаковать и лягаться. Страусы могут бегать быстрее, чем спортсмен.
Яйца страуса используются для украшения, потому что их скорлупа толстая и ее трудно разбить. Некоторые люди используют яичную скорлупу, чтобы сделать ночник, или сохраняют скорлупу целиком после удаления содержимого. Многие ювелирные магазины даже покрывают скорлупу страусиных яиц золотом и продают их по высокой цене. (Источник: vncreatures.net).

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “ĐÀ ĐIỂU CHÂU PHI”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang