Facebook
Gọi trực tiếp
Chat ngay
Chat trên Zalo

CHIM CỔ RẮN – ORIENTAL DARTER

CHIM CỔ RẮN – ORIENTAL DARTER

CHIM CỔ RẮN 

Tên Khoa học: Anhinga melanogaster 

H: Anhingidae 

Bộ: Chim điên 

Chim cổ rắn là các loàichim trong họ Anhingidae, bộ Chim điên (trước đây xếp trong bộ Bồ nông). Hiện nay còn tồn tại tổng cộng 4 loài trong một chi duy nhất, một trong số đó hiện đang ở tình trạng gần bị đe dọa tuyệt chủng. Chúng được gọi là chim cổ rắn là do chúng có cổ dài và mảnh dẻ, tạo ra bề ngoài tương tự như những conrắnkhi chúng bơi với phần thân chìm dưới mặt nước. 

 Miêu tả: Chim cổ rắn là các loài chim lớn. Con trống có bộ lông màu đen hay nâu sẫm, mào mọc thẳng đứng trên đầu và mỏ lớn hơn của con mái. Chim mái có bộ lông nhạt màu hơn, đặc biệt là trên cổ và các phần dưới. Cả chim trống và chim mái có các chấm màu xám trên các lông vai dài và các lông vũ của mặt trên các cánh. Mỏ nhọn có các gờ răng cưa. Các chân chim cổ rắn có màng bơi, ngắn và ở gần phần cuối của thân.[1] Bộ lông của chúng có thể thấm nước, tương tự như của chim cốc nên chúng phải rũ cánh để làm khô sau khi bơi lặn. Các tiếng kêu của chúng bao gồm các tiếng kêu ríu rít hay rất huyên náo khi chúng bay hoặc đậu. Trong mùa động dục, các con trưởng thành đôi khi có tiếng huýt gió như quạ kêu. 

Phân bố:  Chim cổ rắn sinh sống ở khu vực vòng quanh xích đạo, trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng sống trong môi trường nước ngọt hoặc lợ và có thể tìm thấy trong các hồ, sông, đầm lầy, cửa sông, vịnh, phá và các cánh rừng đước ngập nước. Chúng có xu hướng tụ tập thành bầy đôi khi tới 100 con nhưng lại có đặc tính chiếm cứ lãnh thổ khá cao khi vào mùa sinh sản. Phần lớn là sống tĩnh tại và không di cư, tuy nhiên các quần thể lớn có thể có hiện tượng di cư. 

Thức ăn: Thức ăn chủ yếu của chim cổ rắn là  có kích thước trung bình. Chúng dùng các mỏ nhọn của mình để xiên con mồi khi chúng lặn xuống dưới nước. Chúng có thể phóng mỏ của chúng về phía trước tương tự một mũi giáo. Chúng cũng ăn cả các động vật lưỡng cư như ếch và sa giông, các loài động vật bò sát như rắn và rùa cũng như các động vật không xương sống như côn trùng, tôm tép và các động vật thân mềm khác. Các loài chim này dùng chân của chúng để di chuyển dưới nước, đuổi theo và phục kích con mồi. Sau đó chúng đâm vào con mồi, chẳng hạn cá, để đem nó lên trên bề mặt nước, tung nó trong không gian để bắt và nuốt.  

Sinh sản: Chim cổ rắn là động vật có quan hệ tình dục kiểu một vợ-một chồng và chúng cặp đôi trong mùa sinh sản. Chúng có nhiều kiểu thể hiện khả năng để tìm kiếm bạn tình, bao gồm việc các con trống khoe mã để hấp dẫn con mái, các thể hiện chào mừng giữa con trống với con mái và các thể hiện liên kết cặp giữa các cặp. Trong mùa sinh sản, các túi nhỏ dưới cổ chúng đổi từ màu hồng hay vàng sang màu đen và phần da trên mặt chuyển từ màu vàng hay vàng-lục sang màu xanh thổ. Thông thường chúng giao phối và sinh sản theo từng bầy. 

Sinh sản có thể diễn ra thành mùa hoặc quanh năm và thay đổi theo khu vực địa lý. Tổ của chúng được làm từ các cành cây non và được xây trên các ngọn cây hay trong các đám lau sậy, thường gần mặt nước. Ổ trứng có từ 2-6 trứng (thông thường khoảng 4) với vỏ màu lục nhạt, được ấp trong khoảng 25 – 30 ngày. Trứng nở không đồng thời. Cả chim bố và chim mẹ cùng chăm sóc các con và con non thuộc loại không tự kiếm mồi sớm được. Chúng đạt độ tuổi trưởng thành sau khoảng 2 năm. Nói chung chim cổ rắn có thể sống khoảng 9 năm. 

Phân loại: Họ chim này có quan hệ họ hàng rất gần với các họ khác trong bộ Bồ nông (Pelecaniformes). Hiện nay, nói chung người ta công nhận có 4 loài còn sinh tồn trong cùng một chi với danh pháp khoa học Anhinga. Chim cổ rắn phương đông là loài cận mức nguy hiểm. Sự phá hủy môi trường sinh sống cùng với các sự can thiệp khác của con người là những nguyên nhân chính làm cho số lượng của loài này bị suy giảm. 

Hóa thạch: Có một lượng khá lớn các loài và các chi tiền sử chỉ tìm thấy từ các hóa thạch (chủ yếu là trong kỷ đệ Tam); trong số đó được đặt tên một cách thích hợp là Macranhinga, Meganhinga và Giganhinga, đại diện cho những con chim cổ rắn rất lớn và không biết bay. 

Các loài tiền sửa của Anhinga được cho là phân bố trong các điều kiện khí hậu giống ngày nay, phân bố từ châu Âu trong Miocene ẩm hơn và nóng hơn. Dòng nhỏ hơn đã sống sót trong hơn 20 triệu năm. Các bằng chứng hóa thạch loài cho thấy chúng tập trung quan xích đạo, với loài trẻ hơn phân bố về phía đông của châu Mỹ, Hadley cell có vẻ là yếu tố chính giúp chi này vượt qua nguy cơ tuyệt chủng và sống sót. Thuộc nhóm IB theo Thông tư 85/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (Nguồn: vncreatures.net).

———————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————

Oriental Darter (or Indian Darter, Snakebird) 

Scientific Name: Anhinga melanogaster 

Family: Anhingidae 

Order: Suliformes

Darters (or snakebirds) are birds belonging to the family Anhingidae within the order Suliformes (formerly classified under the order Pelecaniformes). Currently, there are a total of 4 extantspecies contained within a single genus, one of which is currently near threatened with extinction. They are called snakebirds because of their long and slender necks, which give them a snake-like appearance when they swim with their bodies submerged beneath the water’s surface. 

Description: Darters are large birds. Males possess jet-black or dark brown plumage, an erect crest on the head, and a larger bill than that of females. Females have lighter plumage, particularly on the neck and underparts. Both males and females exhibit grey spots on their elongated scapulars and upperwing coverts. The pointed bill features serrated edges. The feet of darters are webbed, short, and set far back on the body. Their plumage is permeable to water, similar to that of cormorants, which requires them to spread their wings to dry after swimming and diving. Their vocalizations include clicking, chattering, or rattling calls when flying or perching. During the breeding season, adults sometimes emit a croaking, crow-like whistle. 

Distribution: Darters inhabit equatorial, tropical, and subtropical regions. They live in freshwater or brackish water environments and can be found in lakes, rivers, swamps, estuaries, bays, lagoons, and flooded mangrove forests. They tend to gather in flocks, sometimes numbering up to 100 individuals, but exhibit highly territorial behavior during the breeding season. Most populations are sedentary and non-migratory; however, larger populations may exhibit migratory behavior. 

Food and Feeding: The primary diet of darters consists of medium-sized fish. They use their pointed bills to spear prey while diving underwater. They can thrust their bills forward like a spear. They also consume amphibians such as frogs and newts, reptiles like snakes and turtles, as well as invertebrates including insects, shrimps, and other mollusks. These birds use their feet for underwater locomotion, chasing, and ambushing prey. They then impale the prey, such as a fish, bring it to the surface, toss it into the air to catch, and swallow it. 

Reproduction: Darters are monogamous animals and form pairs during the breeding season. They exhibit various courtship displays to find a mate, including advertisement displays by males to attract females, greeting displays between males and females, and pair-bonding displays. During the breeding season, their gular pouches change color from pink or yellow to black, and the facial skin shifts from yellow or yellow-green to turquoise. They typically mate and breed in colonies. 

Breeding can be seasonal or year-round, varying by geographical region. Their nests are constructed from twigs and built on treetops or among reed beds, usually close to the water surface. A clutch consists of 2 – 6 eggs (usually around 4) with pale green shells, incubated for approximately 25 – 30 days. The eggs hatch asynchronously. Both parents participate in caring for the chicks, and the young are altricial (cannot forage early on their own). They reach sexual maturity at around 2 years of age. In general, darters have a lifespan of about 9 years. 

Taxonomy: This avian family is very closely related to other families within the order Pelecaniformes (traditionally, or Suliformes in modern taxonomy). Currently, it is widely recognized that there are 4 extant species belonging to the single genus Anhinga. The Oriental Darter is a near-threatened species. Habitat destruction along with other human disturbances are the primary causes behind the population decline of this species. 

Fossils: There is a relatively large number of prehistoric species and genera known only from fossils (primarily from the Tertiary period); among them, appropriately named genera include Macranhinga, Meganhinga, and Giganhinga, which represent very large, flightless darters. 

Prehistoric species of Anhinga are believed to have been distributed under climatic conditions similar to those of today, extending into Europe during the wetter and warmer Miocene epoch. This lineage has survived for over 20 million years. Fossil evidence suggests that the species concentrated around the equator, with younger species distributed eastward across the Americas; the Hadley cell appears to be a key factor that helped this genus overcome extinction risks and survive. The species is listed under Group IB according to Circular 85/2025 of the Ministry of Agriculture and Environment. (Source: vncreatures.net).

———————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————

Индийская змеешейка 

Латинское название: Arctictis binturong → Anhinga melanogaster 

Семейство: Змеешейковые (Anhingidae) 

Отряд: Олушеобразные (Suliformes) (или Пеликанообразные / Сулообразные) 

Змеешейки — это птицы, принадлежащие к семейству Змеешейковых (Anhingidae) из отряда Олушеобразных (ранее относились к отряду Пеликанообразных). В настоящеевремя существует в общей сложности 4 ныне живущих вида, относящихся к единственному роду, один из которых сейчас находится в состоянии, близком к угрожаемому. Ихназывают змеешейками из-за длинной и тонкой шеи, которая придает им внешнее сходство со змеями, когда они плавают, полностью погрузив тело под воду. 

Описание: Змеешейки — это крупные птицы. Самцы имеют чисто-черное или темно-коричневое оперение, вертикально стоящий хохолок на голове и более крупный клюв по сравнению с самками. Самки обладают более светлым оперением, особенно на шее и нижней части тела. Как у самцов, так и у самок имеются серые пестрины на удлиненных плечевыхперьях и кроющих перьях верхней стороны крыла. Острый клюв имеет зазубренные края. Лапы змеешеек снабжены плавательными перепонками, они короткие и смещены к заднему концу тела. Их оперение намокает (проницаемо для воды), подобно оперению бакланов, поэтому после плавания и ныряния им приходится расправлять крылья дляпросушки. Их звуковые сигналы включают щелканье, стрекотание или шумные крики во время полета или сидения на ветках. В брачный период взрослые особи иногда издаютхриплый свист, напоминающий карканье вороны. 

Распространение: Змеешейки обитают в приэкваториальной зоне, в тропических и субтропических регионах. Они населяют пресноводные или солоноватоводные биотопы и встречаются в озерах, реках, болотах, эстуариях, заливах, лагунах и затопляемых мангровых лесах. Они склонны собираться в стаи, иногда насчитывающие до 100 особей, однако в периодразмножения демонстрируют высокую территориальность. Большинство популяций ведут оседлый образ жизни и не мигрируют, однако в крупных популяциях могутнаблюдаться миграционные явления. 

Питание: Основу рациона змеешеек составляет рыба средних размеров. Они используют свои острые клювы, чтобы пронзать добычу при нырянии под воду. Они способны резковыбрасывать клюв вперед подобно копью. Они также поедают земноводных, таких как лягушки и тритоны, рептилий (змей и черепах), а также беспозвоночных, включаянасекомых, креветок и других моллюсков. Эти птицы используют лапы для передвижения под водой, преследования и засады на добычу. Затем они протыкают добычу(например, рыбу), выносят её на поверхность воды, подбрасывают в воздух, ловят и заглатывают. 

Размножение: Змеешейки являются моногамными животными и образуют пары на период размножения. Они демонстрируют различные формы брачного поведения для привлечения партнера, включая демонстрационные позы самцов для привлечения самок, приветственные ритуалы между самцом и самкой и ритуалы укрепления парной связи. В сезон размножения ихгорловые мешки меняют цвет с розового или желтого на черный, а кожа на морде меняется с желтой или желто-зеленой на бирюзовую. Обычно они спариваются и гнездятсяколониями. 

Размножение может носить сезонный характер или происходить круглый год, варьируя в зависимости от географического региона. Их гнезда строятся из молодых веток и располагаются на вершинах деревьев или в зарослях тростника, обычно близко к поверхности воды. Кладка содержит от 2 до 6 яиц (обычно около 4) с бледновато-зеленойскорлупой, которые насиживаются в течение примерно 25 – 30 дней. Птенцы вылупляются асинхронно. Оба родителя совместно заботятся о потомстве, а птенцы относятся к птенцовому типу (неспособны самостоятельно добывать пищу на ранних этапах). Полной зрелости они достигают примерно в возрасте 2 лет. В среднем змеешейки могут житьоколо 9 лет. 

Систематика (Классификация): Это семейство птиц находится в очень близком родстве с другими семействами из отряда Пеликанообразных (традиционно, или Олушеобразных в современной классификации). В настоящее время общепризнано существование 4 ныне живущих видов в составе единого рода с научным названием Anhinga. Индийская змеешейка является видом, близким к угрожаемому положению. Разрушение среды обитания наряду с другими видами антропогенного воздействия являются основными причинами сокращения численности этоговида. 

Ископаемые формы (Палеонтология): Существует довольно большое количество доисторических видов и родов, известных исключительно по окаменелостям (преимущественно из третичного периода); среди нихнаиболее примечательными являются роды Macranhinga, Meganhinga и Giganhinga, представлявшие собой очень крупных нелетающих змеешеек. 

Предполагается, что доисторические виды рода Anhinga были распространены в климатических условиях, схожих с современными, распространяясь в Европу в более влажнуюи жаркую эпоху миоцена. Эта эволюционная линия просуществовала более 20 миллионов лет. Данные ископаемых находок показывают, что виды концентрировались вокругэкватора, причем более поздние виды распространялись к востоку от Америки; ячейка Хэдли, по всей видимости, была ключевым фактором, позволившим этому родупреодолеть риск вымирания и выжить. Вид включен в Группу IB согласно Циркуляру 85/2025 Министерства сельского хозяйства и окружающей среды. (Источник: vncreatures.net). 

 

 

 

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “CHIM CỔ RẮN – ORIENTAL DARTER”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang