Facebook
Gọi trực tiếp
Chat ngay
Chat trên Zalo

CỪU – SHEEEP

CỪU – SHEEEP

CỪU

Tên khoa học: Ovis aries

Họ: Trâu bò Bovidae

Bộ: Guốc chẵn Artiodactyla

Cừu (danh pháp hai phầnOvis aries) còn được gọi là trừuchiênmục dươngdê đồng là một loài gia súc trong động vật có vú thuộc Họ Trâu bò. Đây là một trong những loài gia súc được con người thuần hóa sớm nhất để nuôi lấy lông, thịt, sữa, mỡ và da. Đàn cừu trên thế giới hiện nay là trên 1 tỷ con. Cừu có nhiều khả năng được thuần hóa từ loài hoang dã mouflon của châu Âu và châu Á. Một trong những động vật được thuần hóa sớm nhất để phục vụ cho mục đích nông nghiệp như lấy len, thịt và sữa.

Lông cừu là loại sợi động vật được sử dụng rộng rãi nhất, và thường được thu hoạch bằng cách cắt lông. Thịt cừu được gọi là cừu tơ khi lấy từ các con nhỏ và thịt cừu khi lấy từ các con già hơn. Cừu vẫn là một loại gia súc cung cấp thịt và lông quan trọng cho đến ngày nay, và người ta cũng lấy da, sữa và động vật cho nghiên cứu khoa học. Giống cừu lấy thịt nổi tiếng là cừu Lincoln (Anh). Cừu còn phân bố ở Mông CổTây TạngTrung Áchâu Đại Dương. Giống cừu lấy lông tốt nhất là cừu Merino. Cừu là loại dễ tính, có thể ăn các loại cỏ khô cằn, ưa khí hậu khô, không chịu ẩm ướt. Nuôi nhiều ở những nơi khô hạn, hoang mạc và nửa hoang mạc, đặc biệt là vùng cận nhiệt.

Tại Việt Nam có nuôi cừu ở vùng đồi thuộc tỉnh Ninh Thuận.

Thức ăn 

Cừu là động vật có vú ăn rất nhiều cỏ. Hầu hết chúng gặm cỏ và ăn các loại cỏ khô khác, tránh các phần thực vật có gỗ nhiều so với . Cả cừu và dê dùng môi và lưỡi của chúng để chọn những phần thực vật dễ tiêu hóa và có nhiều dinh dưỡng.[1] Tuy nhiên, cừu chăn thả tốt ở khu vực đồng cỏ trong khi dê lại không thích hợp.[1] Giống như tất cả động vật nhai lại, cừu có một hệ tiêu hóa phức tạp gồm bốn ngăn, cho phép chúng phân hủy cellulose từ thân,  và hạt thành các carbohydrat đơn giản hơn. Khu chăn thả cừu, thực vật được nhai thành khối được gọi là Bolus (tiêu hóa), khối này sau đó được đưa vào dạ cỏ thông qua dạ tổ ong. Dạ cỏ chứa khoảng 19 đến 38 lít nơi lên men thức ăn. 

Các sinh vật lên men bao gồm vi khuẩnnấm và protozoa. (các sinh vật quan trọng khác trong dạ cỏ còn có vi khuẩn cổ, chúng tạo ra metan từ cacbon dioxide.) Bolus được đưa trở lại miệng theo định kỳ cho việc nhai lại và tiếp thêm nước bọt.[2] Nhai lại là một thích nghi cho phép động vật nhai lại ăn cỏ nhanh vào buổi sáng, và sau khi nhai hoàn toàn và chúng tiêu hóa thức ăn sau đó trong ngày. Điều này an toàn hơn chăn thả gia súc, vì chúng phải hạ thấp đầu trong khi ăn nên dễ bị các động vật ăn thịt tấn công, trong khi nhai lại thì không. 

Trong khi lên men, dạ cỏ sinh ra khí và khí này phải thải ra ngoài. Sự rối loại của cơ quan, như thay đổi chế độ ăn bất ngờ có thể gây ra tình trạng tử vong do sưng lên khi khí bị đọng trong dạ cỏ, do sự đóng kính của phần đuôi co thắt của thực quản khi tiếp xúc với bọt hoặc chất lỏng. Sau khi lên men trong dạ cỏ, thức ăn đi vào dạ tổ ong và dạ lá sách; các thức ăn đặc biệt như ngũ cốc có thể bỏ qua dạ cỏ hoàn toàn. Sau khi qua 3 ngăn đầu, thức ăn đi vào dạ lá sách để kết thúc quá trình tiêu hóa trước khi hấp thụ qua ruột. Dạ lá sách là cơ quan duy nhất trong 4 ngăn tương tự như bao tử người, và đôi khi được gọi là “bao tử thật”.

Cừu có chế độ hoạt động ban ngày, ăn từ sáng đến tối, thỉnh thoảng dừng lại để nghỉ ngơi và nhai lại. Đồng cỏ lý tưởng cho cừu như cỏHọ Đậu và forb. Các loại đất nuôi cừu rất khác nhau từ đồng cỏ lấy hạt và vùng đất bản địa cải tạo từ đất khô. Các loại cây có độc phổ biến đối với cừu có mặt khắp nơi trên thế giới, và bao gồm (không giới hạn) cherrysồicà chuathủy tùngđại hoàngkhoai tâyđỗ quyên.  

Cừu là động vật ăn chủ yếu là cỏ, không giống như dê và hươu thích các tán lá cao hơn. Với mặt hẹp hơn nhiều, các loại cây cho cừu ăn rất gần mặt đất và chúng có thể với tới để ăn nhanh hơn gia súc khác. Vì lý do đó, nhiều mục đồng sử dụng cách nuôi chăn thả luân phiên để có thời gian hồi phục. Nghịch lý là cừu có cả hai yếu tố là nguyên nhân và là giải pháp phát tán các thực vật xâm lấn. Do làm xáo động trạng thái của bãi cỏ, cừu và các loài gia súc khác có thể mở đường cho các loài thực vật xâm lấn.

Tuy nhiên, cừu cũng ăn các loài xâm lấn này như cheatgrassleafy spurgekudzu và spotted knapweed qua các loài bản địa như cây ngải đắng, làm cho chăn thả cừu hiệu quá đối với việc bảo tồn đồng cỏ. Nghiên cứu được tiến hành ở quận Imperial, California so sánh cỏ cừu với thuốc diệt cỏ nhằm khống chế cỏ linh lăng. 3 thử nghiệm đã chứng minh rằng chăn thả cừu hiệu quả như thuốc diệt cỏ trong việc khống chế cỏ dại vào mùa đông. Các nhà côn trùng học cũng so sánh cừu chăn thả với thuốc trừ sâu đối với việc kiểm soát côn trùng trong mùa đông đối với cỏ linh lăng. Trong thử nghiệm này, cừu làm công tác kiểm soát côn trùng hiệu quả như thuốc trừ sâu. 

Khác với thức ăn gia súc, thức ăn chính của cừu trong mùa đông là cỏ khô. Khả năng phát triển tốt của chúng thường trên các đồng cỏ tùy theo giống, như tất cả cừu có thể tồn tại theo chế độ ăn này. Trong một số khẩu phần ăn của cừu cũng bao gồm các khoáng chất, hoặc trộn với lượng ít hoặc salt lick.

Nguồn nước uống là nhu cầu cơ bản của cừu. Lượng nước cần cho cừu biến động theo mùa và loại và chất lượng thực phẩm mà chúng tiêu thụ. Khi cừu ăn nhiều trong các tháng đầu tiên và có mưa (kể cả sương, khi cừu ăn vào sáng sớm), cừu cần ít nước hơn. Khi cừu ăn nhiều cỏ khô thì chúng cần nhiều nước. Cừu cũng cần uống nước sạch, và có thể không uống nếu nước có tảo hoặc chất cặn. 

Cừu là một trong số ít động vật được nuôi để lấy thịt ngày nay nhưng chưa bao giờ được chăn nuôi phổ biến để lấy thịt. Mặc dù có một phong trào phát triển các thức chăn nuôi thay thế, một tỷ lệ lớn heo và gia cầm vẫn được sản xuất trong các điều kiện như thế. Ngược lại, chỉ có một số cừu thường xuyên cho ăn ngũ cốc nồng độ cao, ít giữ trong trại. Đặc biệt ở các quốc gia công nghiệp hóa, các nhà sản xuất cừu có thể vỗ béo cừu trước khi giết mổ. Nhiều nhà nhân giống cừu cho cừu cái ăn với một tỷ lệ lớn ngũ cốc nhằm tăng sự thụ tinh. Cừu cái có thể được vỗ béo trong thời kỳ mang thai làm tăng trọng, 70% tăng trưởng của cừu xảy ra trong 5 đến 6 tuần cuối của thai kỳ. 

Tuy nhiên, việc vỗ béo quá mức cừu cái trong kỳ đầu mang thai có thể làm hạn chế sự phát triển của thai nhau, hạn chế sự phát triển của thai ở những kỳ sau.] Ngược lại, chỉ khi cừu cái cho con bú hoặc cừu ốm yếu cần vỗ béo thì mới cho ăn ngũ cốc. Thức ăn cho cừu phải được tính theo công thức đặc biệt, như hầu hết gia súcgia cầmheo, và thậm chí là dê, thức ăn chứa nhiều đồng có thể gây chết cừu. Nguy hiểm tương tự đối với các khoáng chất bổ sung như salt lick. (Nguồn: vncreatures.net).


Domestic Sheep 

Scientific Name: Ovis aries

Family: Bovidae (Bovids)

Order: Artiodactyla (Even-toed ungulates)

Species Overview: The domestic sheep is a multi-purpose, completely domesticated ruminant lineage, representing one of the earliest animals agriculturalized for fiber (wool), meat (mutton/lamb), milk, lipids, and pelt. The global population currently exceeds 1 billion individuals, primarily descended from the wild mouflon (Ovis gmelini) lines of Europe and Western Asia.

Trophic Ecology and Ruminant Physiology
Grazing Mechanics and Dietary Selection

+ Feeding Strategy: Strict, short-sward herbivores (grazers), distinct from the browsing strategy of goats (Capra hircus) and deer, which target woody, higher-canopy vegetation.

+ Anatomical Adaptation: Features a narrow muzzle and highly mobile lips and tongue, allowing them to crop forage extremely close to the soil surface. This rapid defoliation often requires intensive rotational grazing management to prevent pasture degradation.

+ Eco-Conservation Utility: Due to their specific dietary preferences, sheep effectively control aggressive invasive weeds (e.g., cheatgrass, leafy spurge, kudzu, and spotted knapweed) while preserving native shrubs like sagebrush. Comparative trials in Imperial County, California, demonstrate that winter sheep-grazing is as ecologically effective as chemical herbicides for weed suppression and as lethal as insecticides for integrated pest management in alfalfa crops.

The Four-Chambered Gastric System and Microbial Fermentation

Like all ruminants, sheep possess a complex, multi-compartmental forestomach engineered to degrade structural carbohydrates (cellulose and hemicellulose) into volatile fatty acids (VFAs).

+ Rumen: Operating as a massive anaerobic fermentation vat with a capacity of 19 to 38 liters, populated by an obligate symbiotic microbiota including cellulolytic bacteria, anaerobic fungi, and ciliate protozoa.

+ Methanogenesis: Methanogenic archaea within this chamber synthesize methane (CH4 ) by utilizing carbon dioxide (CO2 ) and hydrogen.

+ Reticulum: Works in tandem with the rumen. Ingested forage is formed into a bolus (cục thức ăn). This chamber regulates the mechanical separation of particle sizes and drives the cyclical anti-peristaltic reflex for regurgitation and remastication (nhai lại), mixed with highly buffered saliva.

+ Evolutionary Advantage: This adaptive strategy allows the animal to consume forage rapidly in open pastures when predation risks are high, and later process and digest the nutrients while resting in a secure location.

+ Omasum: A highly folded, multi-lamellar chamber primarily responsible for water resorption, volatile fatty acid absorption, and mineral recycling. Highly concentrated feedstuffs, such as processed grains, can bypass the primary forestomach via the reticular groove directly into the lower tract.

+ Abomasum: The dynamic “true stomach” (equivalent to the monogastric stomach of humans), secreting hydrochloric acid (HCl) and proteolytic enzymes (like pepsin) to conclude gastric digestion before digesta enters the duodenum.

Husbandry, Nutritional Management, and Pathologies

Metabolic Distortions and Dietary Pathologies

+ Ruminal Tympany / Bloat: Sudden changes in diet, particularly rapid transitions to lush, high-protein legume pastures, disrupt the ruminal ecosystem. This causes trapped fermentation gases to form a stable, viscous foam that seals the lower esophageal sphincter, blocking normal eructation (ợ hơi). If untreated, the resulting intra-abdominal pressure causes asphyxiation and death.

+ Ovine Copper Toxicosis: Unlike cattle, swine, or poultry, sheep possess an extremely low metabolic threshold for copper (Cu). Rations or mineral blocks formulated for other livestock contain copper concentrations that accumulate in the ovine liver, eventually triggering catastrophic hemolytic crises and acute hepatic necrosis.

Reproductive and Production Nutrition

+ Flushing: Specialized breeders elevate grain allocation prior to breeding to optimize ovulation rates and maximize twinning potentials.

+ Gestational Dynamics: Approximately 70% of fetal growth occurs within the final 5 to 6 weeks of the standard 150-day gestation period. Nutritional status must be scaled carefully; excessive caloric loading during early pregnancy can severely restrict placental development, leading to low birth weights and metabolic crises in late-term ewes.


Овца домашняя

Латинское название: Ovis aries

Семейство: Полорогие (Bovidae)

Отряд: Парнокопытные (Artiodactyla)

Трофическая экология и физиология пищеварения
Механика пастьбы и кормовой избирательности

+ Тип питания: Типичный травоядный пастбищный вид (гразер), специализирующийся на низком травостое, в отличие от коз (Capra hircus) и оленей, предпочитающих веточный корм древесно-кустарникового яруса.

+ Анатомическая адаптация: Узкая морда, а также высокая подвижность губ и языка позволяют овцам срезать растительность у самой поверхности почвы. Столь интенсивное выедание пастбищ требует применения ротационного выпаса во избежание деградации пастбищных угодий.

+ Экологическая роль: Благодаря своим кормовым предпочтениям овцы эффективно подавляют экспансию инвазивных сорняков (костер кровельный, молочай острый, кудзу), сохраняя аборигенные виды (например, полынь). Исследования в округе Империал, Калифорния, доказали, что зимний выпас овец на полях люцерны столь же эффективен для борьбы с сорной растительностью, как химические гербициды, и так же результативен против насекомых-вредителей, как инсектициды.

Четырехкамерный желудок и микробная ферментация

Как и все жвачные, овцы обладают сложным многокамерным преджелудком, способным расщеплять структурные углеводы (целлюлозу и гемицеллюлозу) до летучих жирных кислот (ЛЖК).

+ Рубец (Rumen / Dạ cỏ): Огромная анаэробная ферментационная камера объемом от 19 до 38 литров, заселенная симбиотической микробиотой: целлюлозолитическими бактериями, анаэробными грибами и инфузориями.

+ Метаногенез: Обитающие здесь метаногенные археи синтезируют метан (CH4 ) из углекислого газа (CO2 ) и водорода.

+ Сетка (Reticulum / Dạ tổ ong): Работает в синергии с рубцом. Корм здесь формируется в пищевой комок (болюс). Сетка регулирует механическую сортировку частиц пищи и запускает циклический антиперистальтический рефлекс для отрыгивания и повторного пережевывания (жвачки), сопровождающегося обильным выделением щелочной слюны.

+ Эволюционное преимущество: Данная адаптация позволяет животному быстро заглатывать корм на открытых пастбищах в часы высокой активности хищников, а затем тщательно пережевывать и переваривать его в безопасных условиях.

+ Книжка (Omasum / Dạ lá sách): Камера со множеством складок (листочков), отвечающая за резорбцию воды, всасывание летучих жирных кислот и утилизацию минеральных веществ. Концентрированные корма (зерно) способны миновать преджелудки по пищеводному желобу напрямую.

+ Сычуг (Abomasum / Dạ múi khế): Единственный истинный желудок (аналогичный желудку человека), секретирующий соляную кислоту (HCl) и протеолитические ферменты (пепсин) для завершения желудочного переваривания перед поступлением химуса в двенадцатиперстную кишку.

Зоотехния, кормление и патологии
Метаболические нарушения и диетические патологии

+ Тимпания рубца / Острое вздутие (Ruminal tympany / Chướng dạ cỏ): Резкая смена рациона, особенно быстрый перевод на сочные бобовые пастбища, нарушает микробный баланс. Это приводит к образованию стойкой мелкопузырчатой пены, которая блокирует нижний пищеводный сфинктер, делая невозможным отхождение газов (эруктацию). Без экстренной помощи высокое внутрибрюшное давление вызывает асфиксию и гибель животного.

+ Медный токсикоз овец (Ovine copper toxicosis / Ngộ độc đồng ở cừu): В отличие от КРС, свиней или птицы, овцы обладают крайне низким порогом метаболической толерантности к меди (Cu). Комбикорма или минеральные лизунцы, разработанные для других видов скота, содержат концентрации меди, которые депонируются в печени овец и со временем вызывают гемолитический криз и острый некроз печени.

Специфика кормления в репродуктивный период

+ Флашинг / Авансированное кормление перед случкой: Интенсивное введение концентратов в рацион маток перед осеменением для стимуляции суперовуляции и повышения многоплодия.

+ Динамика суягности: Около 70% роста плода происходит в последние 5–6 недель беременности (общий срок — около 150 дней). Перекорм на ранних стадиях суягности угнетает развитие плаценты, что ведет к гипотрофии плодов на поздних сроках и метаболическим расстройствам у овцематок.





Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “CỪU – SHEEEP”

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang